Hãy luôn lắng nghe người khác!

TS. Trần Thế Trung
Đó là thông điệp trưởng thành mà TS Trần Thế Trung muốn nhắn gửi tới các bạn trẻ, đúc rút từ chính trải nghiệm cuộc sống bản thân. Sự khiêm tốn trong học hỏi đã làm nên một Trần Thế Trung - tiến sĩ, năm 27 tuổi và một Trần Thế Trung - Viện trưởng khoa học, tuổi 30.
Không còn vẻ bẽn lẽn của “cậu bé vàng” Olympic Vật lý năm nào, Trần Thế Trung thể hiện khá rõ sự “trải nghề” khi trao đổi cùng Sinh Viên Việt Nam xung quanh chủ đề về nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Việt Nam hiện nay.
Sáng tạo thường... rủi ro
Thưa anh, “cơn gió” nào đã đưa anh tới công việc của một nhà khoa học tại viện nghiên cứu?
 Thật ra, trước khi được giao phụ trách Viện nghiên cứu công nghệ tại Trường ĐH FPT, tôi đã rất “quen việc” ở các viện nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Năm 2000, tôi từng làm ở Viện Vật lý (Viện KH – CN Việt Nam), là viện nghiên cứu khoa học cơ bản, sử dụng tiền của Chính phủ để thực hiện các khám phá khoa học không mang mục đích thương mại. Ở những nơi như thế, người ta quan tâm nhiều hơn đến việc trả lời được các câu hỏi thú vị, kiểu như tại sao khí quyển Sao Hỏa lại là màu hồng, thay vì màu xanh... Còn công việc của chúng tôi hiện nay là nghiên cứu ứng dụng, coi trọng yếu tố thương mại và tôi nghĩ, có thể nó phù hợp hơn trong hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam hiện nay.
Còn nói về cá nhân, tôi đang là một nhà quản lý nhưng tôi luôn thích làm một người nghiên cứu khoa học thuần túy và cảm nhận rõ rằng, đó mới thật sự là công việc sở trường.
 Khi viện nghiên cứu thuộc trường đại học ra đời, sinh viên có được lợi gì không?
 Tất nhiên, sinh viên có thể được tham gia cùng các dự án nghiên cứu phát triển. Ví dụ, dự án chế tạo vệ tinh nhỏ, tại mỗi thời điểm đều có khoảng 2 hoặc 3 sinh viên FPT tham gia thực tập. Mỗi sinh viên thường thực tập trong suốt 4 đến 8 tháng, phát triển những mô đun phần mềm cho vệ tinh, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia nghiên cứu trong nhóm.
 Chúng tôi luôn khuyến khích sự tham gia của sinh viên, và tạo điều kiện để sinh viên và nhà nghiên cứu tiếp xúc với nhau, hiểu về nhau (về dự án nghiên cứu và về năng lực sinh viên) và đi tới hợp tác. Ví dụ, nhóm nghiên cứu tổ chức những buổi hội thảo trong trường và những sinh viên quan tâm có thể đến trao đổi với nhà nghiên cứu. Hoặc nhà nghiên cứu chính là giảng viên trong trường, tiếp xúc với sinh viên hằng ngày và trao đổi là hệ quả tự nhiên.
 Anh thấy nhiệt huyết khoa học của các bạn trẻ ngày nay thế nào?
 Tôi nghĩ, sinh viên thế hệ nào cũng có người giàu đam mê, có thể đến mức tự bỏ tiền ra, tự lập nhóm nghiên cứu... Chỉ có điều, với mặt bằng sinh viên mình hiện nay, các bạn đang phải “đấu tranh sinh tồn” khá vất vả trong xã hội thì rất khó để dành nhiệt tình cho những cái khác. Trong khi đó, sáng tạo thường rất rủi ro. Hơn nữa, nếu như coi sáng tạo là một nghề cũng kiếm được tiền như các nghề khác thì nó phải bắt nguồn từ nhu cầu của xã hội mà “nghề” này ở Việt Nam thì rất “khuất”. Cho nên, những nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp khả thi để người trẻ vừa có thể thoả mãn sáng tạo mà không quá phải lo toan đến chuyện cơm áo gạo tiền.
Nếu một sinh viên giỏi nhưng thuộc dạng “lắm tài nhiều tật”, anh có sẵn lòng trao cơ hội trong các dự án nghiên cứu của mình?
Tôi nghĩ, ai cũng có tật cả, chỉ có tài hay không chưa biết thôi (Cười!). Những người trẻ có ưu điểm năng động, say mê công việc, có thể đi theo công việc lâu dài. Nhược điểm thì không nói cũng biết: Thiếu kinh nghiệm.  Điều này thường biểu hiện ở trạng thái, ai nói gì họ cũng bác bỏ. Tôi luôn khuyến khích sự cởi mở, biết lắng nghe người khác.
Khi nghiên cứu không xuất phát từ nhu cầu
Ở Việt Nam, đã có không ít viện nghiên cứu rơi vào tình trạng kinh viện hóa hoặc chỉ tạo ra được các công trình nghiên cứu “cất kho”, không có giá trị thực tiễn, kết quả nghiên cứu khoa học của các trường đại học Việt Nam cũng còn rất khiêm tốn so với các đồng nghiệp trong khu vực. Theo anh, tình trạng đó bắt nguồn từ đâu và Nhà nước cũng như xã hội cần làm gì để cải thiện?

Tình trạng này bắt nguồn từ việc nghiên cứu không xuất phát từ nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, nó khó có thể xảy ra với các viện nghiên cứu tư nhân, khi mà hiệu quả hoạt động quyết định sự sống còn. Với các viện nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước, tôi cho rằng, chúng ta có thể áp dụng chính sách ưu tiên phê duyệt các dự án nghiên cứu có đơn đặt hàng từ xã hội. Trở lực chính đang nằm ở chỗ thiếu những cầu nối các nhà khoa học với nhu cầu xã hội, nhu cầu xã hội chưa lớn hoặc chưa được khai phá.
Người trẻ nói chung thường muốn học xong, ngay lập tức phải kiếm được việc làm, có thu nhập cao... Trong khi, công tác nghiên cứu khoa học đòi hỏi nhiều hy sinh và sự kiên nhẫn. Anh giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?
Nghiên cứu cũng là một nghề, tuy rằng nghề này lựa chọn những người có tố chất mà không phải ai trong đại chúng cũng đáp ứng. Khi nhu cầu xã hội được khai thông, những tổ chức nghiên cứu là nơi quy tụ các nhà nghiên cứu, đảm bảo thu nhập cho họ ngay sau khi học xong, chia sẻ gánh nặng rủi ro nghiên cứu. Những nghiên cứu thành công trong tổ chức này sẽ bù đắp cho mất mát của những nghiên cứu thất bại, và từng cá nhân nghiên cứu sẽ bớt phần “hy sinh”.
Anh có ngưỡng mộ một nhà khoa học nào hoặc một mô hình nghiên cứu khoa học của trường đại học nào trên thế giới không?
Nói ngưỡng mộ thì có thể hơi quá. Tuy nhiên, có nhiều mô hình đáng học tập trên thế giới, chẳng hạn, mô hình kết hợp chặt chẽ trường - viện - công ty ở Hàn Quốc. Đề tài nghiên cứu sinh ở một trường đại học tại Hàn Quốc có thể giải quyết một bài toán do ngành công nghiệp của Hàn Quốc đang đặt ra và sản phẩm của nghiên cứu có thể là một bằng sáng chế có quyền tác giả thuộc về nghiên cứu sinh và trường đại học, còn quyền khai thác thuộc về công ty đặt hàng. Có lẽ, đây là mô hình đang thúc đẩy tốt cho nền công nghiệp đã và đang phát triển mạnh của Hàn Quốc nhiều năm qua. 
Xin cảm ơn anh!
Kiều Hải(thực hiện)
 

TS. Trần Thế Trung

*sinh năm 1978,người Hà Nội.
*1996: Huy chương Vàng Olympic Vật Lý quốc tế,Olso, Nauy.
*2000: Nhận bằng cử nhân khoa học,Khoa Toán-Lý, trường ĐH  Melbourne,Australia.
*2002: Nhận bằng thạc sĩ khoa học ngành Vật lý thiên văn,ĐH Paris 6,Pháp.
*2005: Nhận bằng tiến sĩ ngành Vật Lý thiên văn,ĐH Versailles,Pháp.
*2008: Chủ nhiệm bộ môn Toán, Trường ĐH FPT.
*2009: Trưởng Ban đào tạo, Trường FPT.

*2010: Viện trưởng Viện nghiên cứu công nghệ FPT.

Số lượt đọc:5915-Cập nhật gần nhất:23/08/2010

Gửi kết nối

Các tin mới

Các tin đã đăng