Câu chuyện thứ 2: "Tập trung thành một tập thể song sự kết hợp làm việc theo nhóm không tốt lắm"
Sau đây, tôi xin chuyển sang luận điểm thứ hai trong phần luận về người Việt Nam dưới quan điểm nhìn nhận của tôi. Khi hỏi về các đặc điểm tính cách hay đặc tính nói chung của người Việt Nam, tôi thường nhận được câu trả lời là "Người Việt Nam thường rất kém trong vấn đề làm việc theo tập thể". Đây là đặc điểm gắn liền thống nhất với sự tự đánh giá đối với bản thân cho rằng "Mình là trung tâm", và đôi khi được miêu tả bằng một cách khác như, đó đơn giản là đặc tính của người Việt Nam "Luôn giữ vững chủ trương của bản thân". Quả thật khi tiếp xúc với người Việt Nam, tôi thấy người Việt Nam đúng thật là có nét tính cách khá là cương nghị, đôi khi cố chấp, và một khi đã chủ trương một điều gì, không dễ dàng có thể thay đổi được suy nghĩ đó. Ngoài ra, cũng có những trường hợp, người Việt Nam khi có ấn tượng mạnh mẽ về điều gì, sẽ hành động một cách đơn phương, độc lập theo quan điểm của bản thân mình mà không quan tâm đến quan điểm hay tình trạng của đối phương. Theo một số người, ví dụ như các giám đốc tại những công ty Nhật đang đầu tư vào Việt Nam, có những trường hợp, dù có chỉ dẫn thế nào cho nhân viên người Việt Nam về cách tiến hành công việc, người nhân viên đó vẫn không tiếp nhận chỉ dẫn và một lúc nào đó, thực hiện công việc được giao theo cách riêng của mình. Khi hỏi người nhân viên đó về lý do vì sao lại làm như vậy, câu trả lời nhận được là, "Vì làm như vậy tốt hơn", và người nhân viên đó vẫn tiếp tục làm theo cách của mình cho đến khi vấp phải kết quả cuối cùng là thất bại. Kiểu hành động như vậy, nếu được thể hiện dưới hình thức "Sự kì công sáng tạo", sẽ là một điều rất tốt, nhưng thường thì nó hay phát sinh dưới dạng thức "Hành động theo suy nghĩ tùy tiện của bản thân". Dường như trong tính cách của người Việt Nam, có một nét gì đó đặc biệt về niềm kiêu hãnh của bản thân hay cũng có thể có một điều gì đó khiến người Việt Nam từ chối một cách bản năng việc hành động theo những gì người khác (đặc biệt là người nước ngoài) yêu cầu. Tôi nghĩ đây là lý do khiến người Việt không quen với việc hành động trong mối quan hệ tổng hòa với tập thể, trên cơ sở hiểu và thông cảm với những cảm xúc cũng như tình trạng của những người xung quanh.
Tuy nhiên, đôi khi người Việt Nam cũng có những hành động trái với chiều hướng tính cách nói trên. Điều này được thể hiện ở việc người Việt Nam cũng có đặc điểm là thích tụ tập. Tôi lấy một ví dụ như sau, giả sử có 3 nhân viên, cấp trên giao cho 3 người 3 nhiệm vụ. Đứng ở cương vị của cấp trên, rõ ràng ông ta rất hi vọng 3 người nhân viên của mình có thể phân chia phần công việc theo thế mạnh của từng người để phụ trách và cùng song song tiến hành đồng thời những nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong trường hợp đó là những nhân viên người Việt Nam, thường thì họ hay có xu hướng tập hợp lại thành nhóm và thực hiện nhiệm vụ được giao theo thứ tự bắt đầu từ công việc mà họ cho là dễ dàng, đơn giản nhất. Tất nhiên, thành ngữ cũng đã có câu "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", nếu làm theo cách này, cho dù thành quả đạt được không phải là tuyệt đối 100% hiệu quả yêu cầu, đồng thời, sẽ tốn nhiều thời gian hơn mức thông thường để hoàn thành, song cũng có một ưu điểm là bằng cách này hay cách khác, những người nhân viên đó sẽ hoàn tất xong 3 công việc được giao phó. Như vậy tôi cũng nhìn thấy chiều hướng tính cách của người Việt Nam ở khía cạnh như trên, và tôi cho rằng, người Việt Nam thường thích tập hợp thành nhóm để làm việc tập thể, thường không có xu hướng phân công trách nhiệm, hoặc chia nhau các phần công việc để hoàn thành nội dung nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả.
Vậy, chúng ta nên hiểu kiểu hành động "thích tập trung theo nhóm hay đoàn thể" như trên của người Việt Nam như thế nào? Cách lý giải thứ nhất là, điều này giống như một cách thể hiện "tình đồng chí", nó là một quan điểm được hình thành nên bởi ý thức đồng đội, muốn tránh tình thế bất lợi cho những người không có năng lực trước cấp trên của mình trong khi có một thực tế hiển nhiên là luôn tồn tại một sự cách biệt về năng lực giữa các cá nhân. Một cách lý giải khác cho vấn đề này là, mỗi cá nhân người Việt Nam đều nhận thức được rằng, mình thiếu khả năng để làm một việc gì đó, song mặt khác, qua những bài học kinh nghiệm đã trải qua, họ hiểu rằng, nếu hợp sức lại (cho dù có mất nhiều thời gian), bằng một cách nào đó, họ có thể làm tốt công việc cần thực hiện. Hay nói cách khác, đây chính là lý luận như tôi vừa đề cập lúc nãy, gọi là "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Tuy nhiên, điều này cũng lại mâu thuẫn với tính cách chung của người Việt Nam là "tinh thần làm việc tập thể hạn chế". Cách giải thích của tôi về sự mâu thuẫn này như sau. Nói chung, ở người Việt Nam, có thể nhìn thấy một xu hướng tính cách chung, đó là không muốn chịu trách nhiệm, nếu làm với tư cách cá nhân, nếu công việc không diễn ra suôn sẻ hay thất bại, người đảm trách công việc đó rất có thể sẽ bị truy cứu về trách nhiệm, đây phải chăng chính là lí do mà hình thức hành động theo tập thể theo kiểu "cùng làm cùng chịu" được hình thành. Nếu nhìn nhận một cách sâu xa, có thể thấy rằng, hành động mang tính tập thể như vậy chắc hẳn phải có mối liên quan nào đó đến việc Việt Nam đã có một thời gian dài bị đô hộ trước đây, cũng như việc Việt Nam hiện đang là một nước xã hội chủ nghĩa. Việc bị truy cứu trách nhiệm tại một đất nước"bị đô hộ" hay "một nước xã hội chủ nghĩa" được coi là một việc hết sức nghiêm trọng. Người bị truy cứu trách nhiệm không những bị mất việc mà có thể còn bị mất cả địa vị xã hội, thậm chí, có thể nói, cũng có trường hợp có thể còn liên đới trách nhiệm tới cả gia đình. Người Việt Nam một mặt mang trong mình tính cách in đậm màu sắc của chủ nghĩa cá nhân, song mặt khác, người Việt Nam cũng rất khó chịu khi chỉ một mình bị chỉ trích. Giải thích cho mâu thuẫn này, phải chăng cũng có cả lý do có liên quan đến một thực tế là, những người cố gắng để trở nên "xuất sắc", có thể sẽ bị xa lánh bởi cộng đồng hay xã hội ? Với những gì tôi chứng kiến, không thể không cho rằng chính những nguyên nhân mang tính xã hội đó là chìa khóa làm sáng rõ nguồn gốc cho xu hướng hành động của những người Việt Nam "thích tập trung thành tập thể" như vậy. Vậy, các bạn nghĩ sao về điều này?
Câu chuyện thứ 3: "Những đồng tiền giá trị thấp bị coi nhẹ"Tiếp theo đây, tôi xin chuyển sang chủ đề thứ 3. Một trong số những điều tôi cảm thấy kì lạ khi sống ở Việt Nam, đó là vấn đề về cảm giác của người Việt Nam đối với đồng tiền. Nếu nhìn từ vật giá các loại vật tư trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày ở đây, có thể thấy rằng, vật giá của Việt Nam rẻ bằng 1/3 đến 1/5 vật giá của Nhật, tuy nhiên lương của nhân viên văn phòng đóng vai trò chủ chốt trong các công ty tư nhân (nhân viên 40 tuổi, một vợ, 2 con), chỉ trung bình vào khoảng 300~ 400$ (5 triệu ~ 7 triệu đồng), đối với viên chức nhà nước (đặc biệt là đối với giáo viên) , mức lương còn thấp hơn một chút so với con số nói trên, vì vậy, đối với người Việt Nam, vật giá hiện tại tuyệt đối không phải là thấp. Vậy mà, người Việt Nam lại có cách sử dụng hay kiểu nhìn nhận coi nhẹ những đồng tiền có giá trị thấp, khác hẳn so với cách nhìn nhận của người Nhật. Những đồng tiền có giá trị thấp mà tôi muốn đề cập ở đây là các tờ tiền có mệnh giá 500 đồng, 1000 đồng, 2000 đồng, nếu là tiền xu, có thể kể đến những đồng có trị giá 200 đồng đến 2000 đồng. Những người nước ngoài chúng tôi, khi đứng chờ người bán hàng trả lại tiền thừa lúc đi mua hàng trên phố, nếu là những đồng tiền có mệnh giá dưới 10.000 đồng, đặc biệt là 5000 đồng, có những trường hợp nhân viên bán hàng biểu lộ thái độ như thể trả lại tiền thừa thật là một điều phiền toái, và đưa cho chúng tôi 2, 3 viên kẹo ngậm đã được chuẩn bị sẵn ở bên cạnh quầy thanh toán như thể muốn chúng tôi hiểu rằng, "tiền lẻ thôi mà, ông nhận kẹo thay cho số tiền thừa nhé!". Không hiểu có phải người ta cho rằng, những đồng tiền như kiểu xu có mệnh giá 200 đồng thì không có giá trị sử dụng và vì vậy họ dùng băng dính gắn 5 đồng 1 vào một bó và lưu thông trên thị trường với chức năng như một tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng hay không. Như tôi đã trình bày bên trên, vật giá của Việt Nam chỉ bằng 1/3 đến 1/5 vật giá của Nhật, về mức lương cũng chỉ bằng 1/5 đến 1/10 của Nhật, vì vậy, dù là đồng xu trị giá 200 đồng, nếu so sánh tương quan, sẽ thấy nó có giá trị lưu thông tương đương với đồng 5~10 yên, và mặc dù chắc chắn cũng có những kiểu sử dụng tùy tiện, không coi trọng đối với những đồng tiền như vậy ở Nhật, song vẫn phải nói rằng, cách sử dụng đối với đồng tiền như thế này của người Việt Nam quả thật là hơi thái quá. Giả sử trong cửa hàng ở Nhật, nhân viên lấy lý do cửa hàng không có tiền lẻ dưới 50 yên để trả lại, bảo khách "phiền anh nhận kẹo thay cho tiền", việc này chắc sẽ gây ra một rắc rối rất lớn cho cửa hàng. Ở Nhật, kể cả đồng 1 yên (giá trị bằng khoảng 190 đồng Việt Nam) cũng không bao giờ bị bó lại bởi băng dính mà vẫn đường hoàng được lưu thông trên thị trường một cách độc lập. Vậy, cảm giác coi nhẹ đồng tiền giá trị thấp của người Việt Nam, thực chất bắt nguồn từ đâu?
Thực sự, tôi cũng chưa có câu trả lời cho vấn đề này. Giải thích thứ nhất cho câu hỏi này là, bởi vì trong các gia đình Việt Nam, đa số các gia đình đều có cả vợ cả chồng cùng làm việc kiếm sống (không trả thuế), vì vậy, phần thu nhập mà người ta được tự ý tiêu pha hay xử lý theo ý mình nhiều hơn so với những gì người nước ngoài chúng tôi tưởng. Quả thật, số thu nhập thực tế được sử dụng để chi tiêu cho một gia đình trung bình là vào khoảng 500 ~ 1000 đô la Mỹ, bằng 1/5 so với Nhật Bản, và cũng có gia đình, mức thu nhập sử dụng bằng 1/3 so với mức sử dụng của Nhật Bản. Tuy nhiên, giải thích này không thể trở thành lời giải đáp cho câu hỏi của chúng ta. Vì lý do, việc thị trường vật giá của Việt Nam chỉ bằng 1/3 ~ 1/5 vật giá của Nhật vẫn là một thực tế không thay đổi, theo đó, giá trị lưu thông của các đồng tiền giá trị thấp cũng không đổi (cho dù phần thu nhập thực tế được sử dụng nhiều hay ít). Một giải thích nữa cho vấn đề này là, tiền giấy của Việt Nam có vẻ như đang rơi vào tình cảnh lạm phát, và do tiền giấy có quá nhiều chữ số 0, mệnh giá quá lớn, những đơn vị tiền nhỏ có xu hướng bị người ta bỏ qua. Suy luận cho rằng phải chăng vấn đề nêu trên là do tại Việt Nam, lượng lưu thông tiền giấy mệnh giá nhỏ vốn dĩ không nhiều, cũng là một cách lý giải giống với quan điểm trên. Cách giải thích ở đây ít nhiều cũng có sức thuyết phục, tuy nhiên trên thực tế, ở Mỹ, tình trạng tương tự cũng xảy ra khi 1 cent (tương đương với khoảng 180 đồng) hầu như không được công nhận như một đồng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên, mặc dù vậy, ở Mỹ, cũng không có việc không trả lại tiền thừa dưới 1 đô la hay việc bó các đồng xu 1 cent bằng băng dính. Theo đó, cách giải thích bên trên vẫn chưa thể nói là đầy đủ. Giả thiết khá táo bạo của tôi, hay có thể coi là "Thuyết về ảnh hưởng của chiến tranh" , đó là, "Những đồng tiền có mệnh giá nhỏ, để mang theo trong trường hợp khẩn cấp, sẽ rất bất tiện, vì vậy, đã từ rất lâu, những đồng tiền này bị người ta coi nhẹ", và trong chiến tranh, thứ quan trọng hơn cả "tiền" là "hàng hóa" (và đặc biệt là thực phẩm), vì vậy, một thế giới trao đổi hàng lấy hàng ngày càng mở rộng, cảm giác của con người tiếp nhận giá trị trao đổi là những "trị số chẵn tròn", không có phần dư ra, phải chăng đã ăn sâu vào nếp nghĩ của con người. Nói cách khác, đây là giả thuyết cho rằng, khi trao đổi hàng lấy hàng, người ta không có thời gian để quan tâm đến các con số lẻ đằng sau nếu số tiền là 39400 đồng hay 61200 đồng, mà thường nhận thức nó dưới dạng các "trị số chẵn tròn" như 40000 hay 60000 đồng. Mặt khác, nếu nói ngược lại, có thể thấy, những xã hội nơi đồng tiền mệnh giá nhỏ được tôn trọng, đó đều là những xã hội hòa bình và ổn định, còn xã hội Việt Nam, nơi coi nhẹ những đồng tiền như vậy, chẳng phải vẫn chưa đạt đến độ phát triển để thực sự được sống và cảm nhận đầy đủ về hòa bình và sự ổn định đấy sao. Vậy, các bạn nghĩ gì về giả thuyết này?
(còn tiếp)